Giới thiệu

0.BAN_DO_TINH_BK.jpgTrường THCS Quảng Chu gắn với lịch sử
huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn

Địa giới hành chính:
Về địa giới hành chính, huyện Chợ Mới trước năm 1965 thuộc huyện Bạch Thông (Châu Bạch Thông chính thức ra đời từ thời Lê, đời Hồng Đức thứ 21, vào năm 1490). Từ năm 1965 đến 12/1996 thì 09 xã và 01 thị trấn phía Nam của huyện Bạch Thông sát nhập về huyện Phú Lương (gồm Nông Hạ, Nông Thịnh, Thanh Bình, Yên Đĩnh, Như Cố, Quảng Chu, Bình Văn, Yên Hân, Yên Cư và thị trấn Chợ Mới). Theo Nghị quyết kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa IX, tỉnh Bắc Kạn được tái lập. Sau khi tỉnh Bắc Kạn được tái lập năm 1997, địa giới hành chính huyện Bạch Thông điều chỉnh tiếp nhận 09 xã và 01 thị trấn phía Bắc của huyện Phú Lương. Thực hiện Nghị định số 46-NĐ/NP ngày 06/7/1998 của Chính phủ, huyện Chợ Mới được thành lập trên cơ sở tách 16 xã, thị trấn phía Nam của huyện Bạch Thông và chính thức công bố Quyết định thành lập, đi vào hoạt động từ ngày 02 tháng 09 năm 1998.
Huyện Chợ Mới có tổng diện tích tự nhiên là 60.716,08 ha, gồm 16 đơn vị hành chính (15 xã và 01 thị trấn). Thị trấn Chợ Mới là trung tâm huyện lỵ cách thị xã Bắc Kạn 45 km về phía Bắc và cách thủ đô Hà Nội 142 km về phía Nam.
Huyện có vị trí địa lý tương đối thuận lợi. Là huyện cửa ngõ phía Nam của tỉnh Bắc Kạn, phía Đông giáp huyện Na Rì (Bắc Kạn), Võ Nhai (Thái Nguyên); phía Tây giáp huyện Định Hóa (Thái Nguyên); phía Nam giáp huyện Đồng Hỷ và huyện Phú Lương (Thái Nguyên); phía Bắc giáp huyện Chợ Đồn, Bạch Thông và thị xã Bắc Kạn.
Đường Quốc lộ 3 đi qua 7 xã, thị trấn. Sông Cầu chảy qua 9 xã trong huyện. Thị trấn Chợ Mới nằm trên địa phận hợp lưu của sông Cầu và sông Chu. Địa hình của huyện khá đa dạng và phức tạp, chia thành 3 vùng chủ yếu:
Khu vực phía Đông của huyện gồm các xã: Như Cố, Quảng Chu, Bình Văn, Yên Hân, Yên Cư, Tân Sơn. Địa hình của vùng này được tạo bởi các núi đá và thung lũng nhỏ, có nhiều thác ghềnh.
Khu vực phía Tây của huyện gồm các xã: Thanh Mai, Thanh Vận, Mai Lạp. Địa hình núi đất và các thung lũng nhỏ tương đối thuận lợi cho phát triển trồng rừng.
Khu vực dọc theo đường Quốc lộ 3, gồm các xã: Hòa Mục, Cao Kỳ, Nông Hạ, Nông Thịnh, Thanh Bình, Yên Đĩnh và thị trấn Chợ Mới, chủ yếu là đồi núi được cấu tạo từ nham thạch cổ xưa, xen kẽ với núi đá vôi, ngăn cách bởi những thung lũng. Có những thung lũng trải rộng, kéo dài thành những cánh đồng tương đối bằng phẳng dọc theo triền sông, suối. Địa hình miền núi nhiều mưa, mật độ sông, suối có nguồn nước khá lớn, lượng nước lưu chuyển khá dồi dào, phân phối đều giữa các khu vực trong huyện.
Huyện Chợ Mới có hệ thống sông, suối được phân bố đều khắp. Con sông lớn nhất là sông Cầu. Sông Cầu có vai trò to lớn trong đời sống cư dân hầu hết các xã trong huyện. Nguồn nước thủy lợi dồi dào, đường giao thông ngược xuôi và nguồn thủy sản phong phú. Hàng năm, dòng sông này bồi đắp cho các xã dọc lưu vực một lớp phù xa khá màu mỡ. Ngoài tác dụng đó, sông Cầu còn đáp ứng được một phần quan trọng sự thông thương nguồn hàng giữa huyện Chợ Mới với các địa phương khác trong và ngoài tỉnh. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, sông Cầu đóng vai trò vận tải gạo, muối và nhiều vật dụng khác từ miền xuôi đến bến Chợ Mới bằng các thuyền ván lớn, nhỏ; trong hòa bình lại vận chuyển tre, nứa, gỗ… từ Bắc Kạn về xuôi.
Là huyện nằm ở cửa ngõ phía Nam của tỉnh Bắc Kạn nên mạng lưới giao thông ở Chợ Mới tương đối phát triển. Hiện nay 100% số xã có đường ô tô đến tận trung tâm xã nên giao thông liên lạc khá thuận tiện.
Quốc lộ 3 là con đường giao thông huyết mạch chạy dọc theo chiều dài của huyện Chợ Mới. Nhờ con đường này, từ Chợ Mới có thể đi lại một cách dễ dàng từ phía Nam xuống thủ đô Hà Nội, phía Bắc lên tận tỉnh Cao Bằng. Ngoài ra còn một hệ thống đường liên xã, tạo lên mạng lưới giao thông phục vụ đời sống, kinh tế và văn hóa – xã hội cho nhân dân các dân tộc trong vùng.
Chợ Mới nằm trong khu vực khí hậu gió mùa, hàng năm chia thành bốn mùa: xuân, hạ, thu, đông. Mùa hạ trùng với gió mùa đông nam, nhiệt độ trung bình từ 25 độ C đến 28 độ C. Mùa đông trùng với gió mùa đông bắc, tiết trời giá rét, nhiều khi có sương muối, gây ảnh hưởng xấu đến độ sinh trưởng của cây trồng và gia súc.
Dân cư
Là một huyện miền núi phía Nam của tỉnh Bắc Kạn, đất rộng, người thưa. Dân số toàn huyện ngày đầu mới thành lập (1998) là 37.998 người tăng lên 38.205 người (2005) và đến 2008 là 29.468 người.
Trong bức tranh của cộng đồng dân cư, huyện Chợ Mới hiện nay có các dân tộc: Kinh, Tày, Nùng, Dao, Mông, Hoa, Sán Chay và một số ít dân tộc khác thuộc các ngữ hệ và các nhóm ngôn ngữ khác nhau:
Ngữ hệ Nam Á với các nhóm: Việt – Mường (Kinh); Mông – Dao (Mông, Dao).
Ngữ hệ Thái – Ka đai (Tày, Nùng).
Ngữ hệ Hán (Hoa và nhóm Sán Chỉ thuộc dân tộc Sán Chay).
Người Kinh chiếm khoảng 20% dân số, chủ yếu sông tập trung ở vùng thấp và thị trấn.
Người Tày chiếm khoảng 56,9% dân số, phân bố hầu khắp các địa bàn trong huyện. Đây là lớp dân cư bản địa, có trình độ phát triển kinh tế – xã hội cao trong vùng. Ngôn ngữ Tày cùng với tiếng phổ thông đóng vai trò quan trọng trong giao tiếp giữa các dân tộc trong khu vực.
Người Nùng có mới quan hệ lịch sử với người Tày, cư trú xen kẽ với người Tày và người Kinh, với dân số khoảng 3,62 %.
Người Dao cũng như người Mông sinh sống chủ yếu ở vùng cao quanh chân núi, chiếm khoảng 17,3% dân số.
Người Mông, Sán Chay, Hoa và một số dân tộc khác có mặt muộn hơn với dân số ít (~2,03%).
Mỗi dân tộc ở Chợ Mới dù trình độ phát triển kinh tế – xã hội không đồng đều, số lượng nhiều ít khác nhau, nhưng đều có sắc thái dân tộc độc đáo, phong tục tập quán khác nhau tạo nên bức tranh văn hóa đa màu sắc, nhiều giá trị văn hóa vật thể, phi vật vẫn còn bảo lưu: Từ nếp nhà sàn truyền thống đến các bộ trang phục đậm đà sắc thái dân tộc, hàm chứa các giá trị lịch sử, văn hóa. Lễ hội “lồng tồng” (xuống đồng) vào mùa xuân với ý nghĩa cầu mùa là hình thưc sinh hoạt văn hóa dân gian độc đáo. Hát Páo dung của người Dao, múa khèn của người Mông, hát Sli, lượn của người Tày – Nùng trong các lễ hội, chợ phiên hay trong đám cưới.
Trải qua quá trình lịch sử cùng sinh sống trên vùng đất Chợ Mới, nhân dân các dân tộc ở đây đã tạo nên những giá trị văn hóa mang đặc trưng dân tộc, đồng thời làm phong phú thêm văn hóa của cộng đồng dân cư.
Kinh tế – xã hội huyện Chợ Mới (tính đến 2010)
– Kinh tế:
Trong hơn 10 năm qua, tốc độ phát triển kinh tế tăng khá, năm sau tăng hơn năm trước. Qua 3 kỳ đại hội Đảng bộ huyện đều xây dựng cư cấu kinh tế là : Nông – Lâm nghiệp – Dịch vụ – Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp. Tích cực chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ và giảm dần tỷ trọng nông, lâm nghiệp. Khu vực công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp tăng từ 15% năm 2000 lên 25% năm 2005; khu vực dịch vụ tăng từ 25% năm 2000 lên 30% năm 2005 và khu vực nông, lâm nghiệp giảm từ 60% năm 2000 xuống còn 45% năm 2005.
Dù là một huyện mới thành lập còn nhiều khó khăn nhưng Đảng bộ và chính quyền huyện đã quan tâm, chỉ đạo phát triển và nuôi dưỡng nguồn thu ngân sách. Cùng với thu ngân sách, huyện quan tâm chỉ đạo vận động thu hút, huy động các nguồn vốn, tập trung cho vay để phát triển kinh tế – xã hội nên công tác tài chính, tiền tệ được đánh giá là tốt.
Huyện Chợ Mới có 38/166 thôn, bản, tổ dân phố là thôn định canh định cư. Huyện xác định công tác định canh định cư là một nhiệm vụ quan trong trước mắt và lâu dài. Chính vì vậy Ban Chấp hành Đảng bộ huyện khóa I đã ra Nghị quyết chuyên đề về công tác định canh định cư – kinh tế mới. Sau hơn 10 năm đã thu được những kết quả quan trọng: Số gia đình đồng bào định canh định cư có thu nhập khá, đời sống ngày càng ổn định, góp phần giảm hộ nghèo khu vực định canh định cư từ 57% năm 2001 xuống còn 45,65% năm 2007.
Chợ Mới là huyện vùng cao, cửa ngõ phía nam của tỉnh Bắc Kạn, tổng diện tích tự nhiên là: 60.716,08 ha; có 15 xã, 01 thị trấn, 166 thôn, bản, tổ dân phố, tính đến 2012 toàn huyện có 9410 hộ gia đình với 07 dân tộc (Tày, Nùng, Dao, Kinh, Hoa, Hmông, Sán chay) cùng sinh sống (tỷ lệ dân tộc thiểu số chiếm 75%, trong đó dân tộc Tày chiếm hơn 60%). Thị trấn Chợ Mới là trung tâm huyện lỵ, cách Thủ đô Hà Nội 131 km, cách trung tâm tỉnh Bắc Kạn 42 km. Chợ Mới có vị trí địa lý khá thuận lợi trong việc giao lưu, phát triển kinh tế – văn hóa, xã hội. Phía đông giáp với huyện Na Rì (Bắc Kạn), Võ Nhai (Thái Nguyên); phía tây giáp huyện Chợ Đồn (Bắc Kạn), huyện Định Hóa (Thái Nguyên), phía nam giáp huyện Phú Lương, Đồng Hỷ (Thái Nguyên), phía bắc giáp Thị xã Bắc Kạn; có quốc lộ 3 chạy qua 8 xã, thị trấn. Địa hình huyện Chợ Mới chủ yếu là đồi núi nên dân cư thưa thớt, mật độ dân số trung bình hơn 50 người/km2.
– Xã hội:
Cấp ủy huyện rất quan tâm đến vấn đề đào tạo việc làm mới cho người lao động nhằm tăng thu nhập ổn định, đến năm 2010 đã tạo việc làm cho 2.638 lao động có việc làm ổn định. Cùng với việc quan tâm vấn đề lao động việc làm thì huyện đã lãnh đạo công tác xóa đói giảm nghèo có hiệu quả bằng các biện pháp và nhiệm vụ cụ thể. Năm 1998 tỷ lệ hộ đói, nghèo toàn huyện còn 21,6% theo tiêu chí cũ, đến tháng 12 năm 2007 tỷ lệ hộ nghèo còn 30,54% theo tiêu chí mới. Bình quân từ năm 1998 đến năm 2005 hàng năm giảm 6,73% hộ nghèo theo tiêu chí cũ; từ năm 2005 đến 2007 bình quân tăng hàng năm giảm 9,11% hộ nghèo theo tiêu chí mới.
Sự nghiệp giáo dục của huyện có bước phát triển khá. Quy mô phát triển trường lớp và học sinh không ngừng mở rộng. Chất lượng giáo dục của các bậc học được nâng lên. So với năm 1998, năm học 2009 – 2010 toàn huyện có 42 trường tăng 13 trường. Có 16 trường mầm non, 15 trường tiêu học, 06 trường THCS, 03 trường PTCS, 02 trường THPT, có 10 trường đạt chuẩn Quốc gia.
Số lượng cán bộ, giáo viên không ngừng tăng lên. Ngành giáo dục quan tâm đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ cán bộ, giáo viên. Đến 2010, tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn ở tất cả các cấp học đều trên 97%. Toàn ngành có 05 thạc sỹ. Công tác xã hội hóa giáo dục có chuyển biến đã góp phần quan trọng cho phát triển sự nghiệp giáo dục của toàn huyện. Đến năm 2010, Hội khuyến học và Trung tâm học tập cộng đồng đã được thành lập 16/16 xã, thị trấn. Toàn huyện có 22% số lao động qua đào tạo nghề. Từ ngày thành lập đến 2010 có 02 học sinh đạt học sinh giỏi quốc gia; tỷ lệ học sinh thi đỗ các trường cao đẳng, đại học ngày càng tăng. Hết năm 1998 huyện đạt chuẩn quốc gia về phổ cập giáo dục tiểu học – xóa mù chữ. Hết năm 2007 toàn huyện có 16/16 xã, thị trấn đạt chuẩn quốc gia về phổ cập trung học cơ sở.
Về công tác y tế – chăm sóc sức khỏe nhân dân. Ngoài việc đầu tư xây dựng các cơ sở vật chất, bổ sung trang thiết bị hiện đại là việc quan tâm bồi dưỡng, nâng cao trình độ nghiệp vụ chuyên môn cho đội ngũ cán bộ y tế. Năm 1998 còn 2 xã chưa có trạm xá, nhiều nhà trạm xuống cấp, chưa có bệnh viện chỉ có bệnh viện vùng cao Yên Cư, trung tâm y tế huyện vừa làm chức năng quản lý nhà nước và khám chữa bệnh, toàn huyện mới có 05 bác sỹ. Đến 2010, tất cả các xã, thị trấn đều có trạm y tế, 10/16 xã có bác sỹ, bệnh viện huyện có trên 50 giường bệnh, tất cả các trạm y tế xã được xây dựng kiên cố; 100% thôn bản, tổ phố có cán bộ y tế. Đến 2010 toàn ngành có 133 cán bộ, trong đố có 07 bác sỹ chuyên khoa cấp I; các chương trình y tế được triển khai có hiệu quả. Công tác phòng, chống dịch bệnh được quan tâm. Hội Đông y huyện thành lập và hoạt động từ tháng 10/2004, đến nay có 16/16 xã, thị trấn có hội Đông y. Công tác quản lý đội ngũ, quản lý y dược được tiến hành thường xuyên. Đến 2010 toàn huyện có 7 xã đạt chuẩn quốc gia về y tế.
Về dân số – kế hoạch hóa gia đình cũng có những kết quả đáng khích lệ. Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên được kiềm chế. Công tác gia đình được quan tâm chỉ đạo với mục tiêu gia đình “Ấm no – Bình đẳng – Tiến bộ – Hạnh phúc”. Đến 2010 trên 75% số gia đình đạt tiêu chuẩn gia đình văn hóa. Công tác chăm sóc, bảo vệ trẻ em thu được kết quả khá. Các mục tiêu giáo dục, mục tiêu chăm sóc sức khỏe, phòng chống suy dinh dưỡng, chăm lo trẻ em khuyết tật, cô đơn được quan tâm chu đáo. Toàn xã hội, cộng đồng tham gia quản lý, giáo dục trẻ em.
Về chính sách xã hội, chính sách người có công được giải quyết kịp thời. Công tác chăm sóc người có công, gia đình thương binh hàng năm được chăm lo chu đáo. Chương trình xóa nhà tạm, dột nát được hoàn thành cuối năm 2006. Đến nay toàn huyện đã làm được hơn 100 ngôi nhà tình nghĩa, hỗ trợ nhà ở cho 739 hộ nghèo…
Công tác phòng, chống tệ nạn xã hội được chỉ đạo triển khai tích cực có hiệu quả. Tệ nạn ma túy, mại dâm, số đề… từng bước được ngăn chặn. Các điểm kinh doanh có dấu hiệu vi phạm được kiểm tra truy quét. Huyện vừa tập trung tuyên truyền vận động, vừa tăng cường truy quét các tụ điểm ma túy trên địa bàn.
Các hoạt động văn hóa, thông tin, thể dục, thể thao có nhiều khởi sắc. Hệ thống thông tin cơ bản đáp ưng nhu cầu nhanh chóng, kịp thời đến đông đảo nhân dân trong huyện. Đến 2010 toàn huyện có 100% xã, thị trấn có báo đọc trong ngày, 16/16 xã thị trấn có trạm truyền thanh cơ sở, thiết chế văn hóa được quan tâm đầu tư xây dựng, có 95% số thôn, bản tổ dân phố có nhà họp thôn. Tất cả các cơ quan, trường học được quan tâm, quy hoạch lâu dài. Hiện nay các xã trên địa bàn huyện đã hoàn thành quy hoạch sử dụng đất đến năm2020. Những thành tựu về kinh tế – xã hội của huyện Chợ Mới tỉnh Bắc Kạn là tiền đề vững chắc cho công cuộc xóa đói giảm nghèo của huyện ngày càng phát triển vững chắc.
Quảng Chu là một xã vùng cao thuộc huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn. Đây là xã cực nam của huyện Chợ Mới và của cả tỉnh Bắc Kạn, cũng là xã có độ cao thấp nhất tỉnh (40 m). Quảng Chu có dòng chính của Sông Cầu chảy qua khu vực giữa của xã và đoạn sông này có chiều Tây Bắc – Đông Nam. Xã Quảng Chu có diện tích 50 km², dân số là 3451 người, mật độ dân số đạt 69 người/km².
Về ranh giới nội tỉnh, Quảng Chu giáp với hai xã Yên Đĩnh và Như Cố cùng thuộc huyện Chợ Mới ở phía Bắc. Quảng Chu giáp với các xã của tỉnh Thái Nguyên ở các phía còn lại: với xã Thần Xa của huyện Võ Nhai ở phía Đông, với xã Văn Lăng của huyện Đồng Hỷ ở phía Đông Nam và Nam, với hai xã Yên Lạc và Yên Ninh của huyện Phú Lương ở phía Tây Nam và Tây. Quảng Chu được chia thành 13 thôn bản là Bản Đén 1, Bản Đén 2, Bản Nhuần 1, Bản Nhuần 2, Con Kiến, Nà Lằng, Nà Choọng, Đèo Vai 1, Đèo Vai 2, Làng Chẽ, Cửa Khe, Làng Điền, Đồng Luông.
Trường THCS Quảng Chu được thành lập ngày 05 tháng 9 năm 1997 được xác định trong Quyết định số 539/TC-ĐT ngày 05 tháng 9 năm 1997 của Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Bắc Kạn về việc tách trường Phổ thông cơ sở thành trường Tiểu học và Trường THCS thuộc huyện Bạch Thông.
Trường đang từng bước đầu tư xây dựng theo mô hình trường chuẩn Quốc gia nhằm nâng cao chất lượng, giáo dụctoàn diện và chú trọng bồi dưỡng năng khiếu cho học sinh
sachgiaokhoamoiQuan điểm giáo dục
Giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thầm mỹ và các kỹ năng cơ bản nhằm hình thành nhân cách cho học sinh, chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học THPT, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động.
Tiêu chí của học sinh Trường THCS Quảng Chu: Có lòng nhân ái, chính trực; có kiến thức văn hoá đạt chuẩn; có sức khoẻ tốt; có kỹ năng sống, khả năng thích ứng cao; có nhiều cống hiến cho cộng đồng
Tổ chức của trường và đội ngũ giáo viên:
Hiệu trưởng: Nhà giáo Thạc sĩ Nông Việt Dũng. Năm 2010, đạt danh hiệu Chiến sĩ thi đua cấp tỉnh, được nhận Kỷ niệm chương Vì sự nghiệp giáo dục, Kỷ niệm chương Vì an ninh Tổ quốc. Nhiều năm đạt danh hiệu giáo viên giỏi, chiến sĩ thi đua cơ sở. Từng giữ chức vụ Trưởng phòng Văn hóa và Thông tin huyện, Trưởng Đài Truyền thanh – Truyền hình huyện Chợ Mới. Với thâm niên hơn 20 năm công tác, đã có nhiều cống hiến cho sự nghiệp giáo dục, có nhiều sáng kiến kinh nghiệm trong giảng dạy cũng như trong công tác quản lý trường học.
Phó hiệu trưởng: Nhà giáo Mai Đức Phương. Với thâm niên giảng dạy gần 20 năm trong ngành giáo dục, là giáo viên dạy giỏi môn Toán cấp huyện, nhiều năm liền là giáo viên dạy giỏi và Chiến sĩ thi đua cấp cơ sở, có nhiều sáng kiến kinh nghịêm được áp dụng hiệu quả trong giảng dạy.
Đội ngũ giáo viên: Trường THCS Quảng Chu là nơi hội tụ các thầy cô giáo có năng lực chuyên môn, tâm huyết với nghề, được học sinh tin yêu; đó là các thầy cô giáo dạy giỏi cấp huyện, cấp tỉnh; là các giáo viên trẻ, năng động, sáng tạo; là các sinh viên tốt nghiệp loại giỏi của các trường Sư phạm. Tất cả đều đạt chuẩn và trên chuẩn
Nội dung, phương pháp và kế hoạch giáo dục
* Trường THCS Quảng Chu là một môi trường giáo dục tin cậy, là nơi nuôi dưỡng và phát triển trí tuệ, tài năng cùng nhân cách cho học sinh xã Quảng Chu, huyện Chợ Mới.
* Trường là nơi hội tụ các thầy cô giáo có năng lực, tâm huyết với công việc, được học sinh tin yêu.
* Ban giám hiệu cùng các thầy cô giáo trong trường nắm chắc tình hình học tập, rèn luỵên tu dưỡng để giúp đỡ hiệu quả đến từng học sinh.
* Nhà trường chú trọng việc học thật, thi thật, điểm thật, kiến thức thật, học để lập nghiệp.
* Chương trình giáo dục, kế hoạch dạy học của trường được thực hiện theo hướng dẫn của Bộ giáo dục và đào tạo.
* Học phí thu theo quy định của Hội đồng nhân dân tỉnh Bắc Kạn đối với các trường công lập.
Cơ sở vật chất:
Trường được xây dựng đẹp với diện tích hơn 20.000 m2. Môi trường sư phạm yên tĩnh, đảm bảo sự thông thoáng và thuận lợi cho học sinh yên tâm học tập.

HIỆU TRƯỞNG
Thạc sĩ Nông Việt Dũng